Toàn cảnh hội thảo tại tỉnh Đồng Nai ngày 11/10
Đó là những thông tin được chia sẻ tại hai hội thảo “Bệnh mới nổi và tái nổi trên heo (ASF, PPRS, Mycoplasma suis, FMD, JEV) tại Việt Nam: thách thức và giải pháp” do Công ty Cổ phần Thú y Vettech tổ chức đầu tháng 10 vừa qua. Hội thảo có sự đồng hành của Hội Chăn nuôi Việt Nam.
Tham dự hội thảo diễn ra vào ngày 04/10/2025 tại Hà Nội và ngày 11/10/2025 tại Đồng Nai, có lãnh đạo các cơ quan chuyên ngành, Hội Chăn nuôi Việt Nam, Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai, cùng hơn 500 đại biểu là các nhà khoa học, chuyên gia thú y, đại diện doanh nghiệp, chủ trang trại chăn nuôi và các đối tác đến từ nhiều tỉnh, thành trên cả nước.
Tại sự kiện, chuyên gia hàng đầu về các bệnh truyền nhiễm trên heo, PGS. TS. Lê Văn Phan, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Cố vấn Cao cấp Công ty Cổ phần Thú y Vettech chia sẻ bài trình bày: Cập nhật một số bệnh mới nổi và tái nổi (ASF, PRRS, Mycoplasma suis, FMD, JEV) trên heo tại Việt Nam.
PGS.TS. Wattanaphansak Suphot, Khoa Thú y, Đại học Chulalongkorn (Thái Lan), cũng đã chia sẻ chủ đề “Giải pháp kiểm soát dịch bệnh trong chăn nuôi heo – Kinh nghiệm từ Thái Lan”. Bài trình bày được phiên dịch bởi TS. Đàm Văn Phải, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Dịch tả heo châu Phi (ASF): Biến chủng phức tạp và thách thức kiểm soát

PGS.TS. Lê Văn Phan, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Cố vấn Cao cấp Công ty Cổ phần Thú Y Vettech
Là người đầu tiên phát hiện ra ASF tại Việt Nam và cũng là người tiên phong trong các nghiên cứu về dịch tả heo châu Phi, PGS.TS. Lê Văn Phan đã cập nhật tình trạng lưu hành của virus Dịch tả heo châu Phi (ASFV) tại Việt Nam:
1) Các chủng tự nhiên thuộc Genotype II và các chủng tái tổ hợp giữa genotype I/II đều có độc lực cao với tỷ lệ chết có thể đạt tới 100%. Đáng chú ý, đến năm 2025, xu hướng lưu hành của các chủng tái tổ hợp ngày càng gia tăng và dần chiếm ưu thế so với chủng Genotype II ban đầu; (2) Các chủng virus bị xóa gen (như MGF, I177L, Cd2v..) là các chủng giảm độc lực, tuy nhiên lưu hành dai dẳng, âm ỉ và khó kiểm soát, gây tổn thất đáng kể cho đàn heo;
ASFV là virus ADN kép, có kích thước lớn, tấn công trực tiếp vào tế bào miễn dịch (đặc biệt là đại thực bào và bạch cầu đơn nhân), làm suy giảm khả năng miễn dịch tự nhiên của heo. Virus này có thể tồn tại hàng tháng trong thịt đông lạnh, thức ăn thừa và môi trường trại, kháng với nhiều loại thuốc sát trùng thông thường, chỉ bị bất hoạt trong môi trường pH cực đoan (pH < 3,9 hoặc > 11,5).
Đáng lo ngại, virus ASF có thể tồn tại trong heo mang trùng, gây nhiễm trùng tiềm ẩn mà không có triệu chứng rõ ràng, việc phát hiện sớm trở nên khó khăn. Các biểu hiện lâm sàng khác nhau theo giống, độ tuổi và tình trạng miễn dịch của đàn.
“Phản ứng của heo đối với ASF có sự khác biệt theo lứa tuổi và giống heo, đòi hỏi người chăn nuôi và cơ quan thú y phải có giải pháp quản lý phù hợp nhằm kiểm soát hiệu quả dịch bệnh nguy hiểm này”, PGS.TS Lê Văn Phan nhấn mạnh.
Theo PGS.TS. Lê Văn Phan, dưới góc độ nghiên cứu, virus ASF lây lan trong trại rất chậm hơn so với các virus gây bệnh truyền nhiễm khác như lở mồm long móng, tai xanh, PED…nếu kiểm soát cá thể tốt, an toàn sinh học tốt, người chăn nuôi có thể bảo toàn được đàn heo của mình.
Từ thực tế giám sát tại nhiều trang trại, ông khuyến cáo: “Nếu một cá thể trong đàn có triệu chứng, nghĩa là virus đã tồn tại trong quần thể. Việc phát hiện sớm, cách ly và xét nghiệm định kỳ là biện pháp bắt buộc để ngăn lây lan.”
Hiện tại, trong tình hình phức tạp của dịch bệnh, với sự lưu hành đồng thời của các chủng virus độc lực cao và độc lực thấp, Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chủ động kết hợp các phương pháp chẩn đoán Realtime PCR, Elisa để phát hiện sớm, hiệu quả và chính xác sự có mặt của virus trong đàn, nhằm giảm thiểu thiệt hại cho trang trại. Ông cũng khuyến cáo việc sử dụng hiệu quả các kit test nhanh trong chẩn đoán tại thực địa.
Theo PGS.TS. Lê Văn Phan, các biện pháp kiểm soát ASF tại trang trại bao gồm bao gồm: Tăng cường an toàn sinh học toàn diện từ con giống, thức ăn, vận chuyển, nhân viên; giám sát định kỳ để phát hiện sớm và truy xuất nguồn gốc đàn heo nghi nhiễm bệnh; quản lý đàn hậu bị âm tính tách biệt hoàn toàn khỏi đàn thương phẩm; không tự ý sử dụng vaccine ASF chưa được kiểm định, cần tuân thủ quy trình kiểm định an toàn nghiêm ngặt; loại bỏ triệt để nguồn thức ăn thừa và chất thải không xử lý nhiệt.
Các đại biểu chăm chú lắng nghe các diễn giả trình bày
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS): Biến đổi gen và nguy cơ đồng nhiễm
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) hay còn gọi là bệnh tai xanh, là một trong những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại kinh tế nặng nề nhất. Tác nhân là virus ARN có tốc độ đột biến cao, dễ tái tổ hợp và hình thành các dòng virus mới.
PGS.TS. Lê Văn Phan cho rằng, PRRS gây ra các rối loạn sinh sản (sẩy thai, thai chết lưu, đẻ non) ở nái và bệnh hô hấp mãn tính ở heo con, heo thịt. Đáng chú ý, các trường hợp PRRS tại Việt Nam hiện nay thường đồng nhiễm vi khuẩn hô hấp (Pasteurella multocida, Streptococcus suis, Actinobacillus pleuropneumoniae), làm bệnh cảnh trở nên phức tạp, tăng tỷ lệ chết và giảm hiệu quả điều trị.
Một thách thức khác là vaccine PRRS sống có thể tái tổ hợp với virus thực địa, tạo ra biến chủng mới có độc lực khác biệt. Việc sử dụng vaccine không đồng bộ, không phù hợp chủng lưu hành có thể làm tăng nguy cơ bùng phát dịch.
Các phương án kiểm soát PRRS được khuyến cáo gồm:
- Chẩn đoán sớm và định type virus lưu hành trước bằng phương pháp giải trình tự gene trước khi chọn vaccine.
- Tiêm vaccine đồng bộ, đúng chủng lưu hành, với lịch tiêm chủng hợp lý, hạn chế việc tiêm trộn lẫn vaccine phòng các bệnh khác nhau nhằm làm giảm thiểu các sai sót từ thao tác kỹ thuật.
- Tăng cường an toàn sinh học nội trại như chia khu cách ly, khử trùng phương tiện, người và vật tư.
- Cải thiện điều kiện môi trường, dinh dưỡng và giảm stress cho đàn để hạn chế tái phát.
| Kiểm soát dịch bệnh cần tổng thể và liên ngành
Theo PGS.TS. Lê Văn Phan, tình hình dịch bệnh trên đàn heo hiện nay không còn là vấn đề riêng lẻ của từng trại mà đã trở thành thách thức chung của toàn chuỗi giá trị ngành chăn nuôi. Sự liên kết giữa khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý được xem là yếu tố then chốt để đảm bảo phát triển bền vững và an toàn sinh học trong chăn nuôi heo. Các bệnh mới nổi và tái nổi tại Việt Nam không chỉ gây thiệt hại kinh tế trực tiếp mà còn đe dọa an ninh sinh học và an toàn thực phẩm quốc gia. Do đó, công tác kiểm soát dịch bệnh cần được triển khai theo hướng tiếp cận tổng thể và liên ngành. Những giải pháp trọng tâm bao gồm: tăng cường giám sát dịch tễ và năng lực phòng thí nghiệm; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thú y, doanh nghiệp và viện nghiên cứu; thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất vaccine nội địa, đặc biệt là vaccine chuồng (autogenous vaccine) có kiểm soát; đồng thời đào tạo, nâng cao nhận thức an toàn sinh học cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, việc hợp tác quốc tế trong cập nhật thông tin, chia sẻ chủng virus và kinh nghiệm phòng chống dịch là cơ sở quan trọng giúp Việt Nam xây dựng chiến lược kiểm soát dịch bệnh bền vững, góp phần đảm bảo hiệu quả kinh tế và an toàn thực phẩm trong ngành chăn nuôi heo. |
PED: Nữ hoàng của các bệnh truyền nhiễm trên heo
PGS.TS. Suphot Wattanaphansak – chuyên gia đến từ Khoa Thú y, Đại học Chulalongkorn (Thái Lan), với 25 năm kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu các bệnh trên heo chia sẻ, Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc có chung bức tranh chăn nuôi và kiểm soát dịch bệnh. Sau khi Dịch tả heo châu Phi (ASF) bùng phát, việc dồn toàn bộ nguồn lực vào công tác phòng chống ASF đã vô tình tạo ra những khoảng trống trong hệ thống giám sát và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm khác. Hệ quả là một số bệnh quan trọng như Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS – tai xanh) và tiêu chảy do virus PED có xu hướng tái bùng phát và lan rộng, gây thêm thách thức cho ngành chăn nuôi.

PGS.TS, Suphot Wattanaphansak – chuyên gia đến từ Khoa Thú y, Đại học Chulalongkorn (Thái Lan)
Theo PGS.TS. Suphot Wattanaphansak, nếu coi mức độ nguy hiểm của ASF như một ông vua thì PED là “nữ hoàng của các bệnh truyền nhiễm trên heo”. PED gây tiêu chảy cấp tính, mất nước nhanh, đặc biệt nguy hiểm cho heo con với tỷ lệ chết có thể đạt 100% trong vòng 5–7 ngày.
PED lây lan qua phân, dụng cụ, người và phương tiện vận chuyển. Virus có thể tồn tại lâu ngoài môi trường và tái phát theo mùa.Tại Thái Lan, ông đã tổng kết các bước kiểm soát PED hiệu quả:
- Bình tĩnh đánh giá thực trạng và lập kế hoạch ứng phó dài hạn (ít nhất 2–3 tháng).
- Xác định nguyên nhân chính xác bằng xét nghiệm PCR để phân biệt với TGE, PDCoV, Rota.
- Siết chặt an toàn sinh học, loại bỏ các nguồn lây nhiễm cơ học và sinh học (người, phương tiện, chuột, chim, côn trùng…), hạn chế di chuyển trong khu vực đẻ, đồng thời khử trùng thường xuyên bằng dung dịch NaOH 2%, kali peroxymonosulfat hoặc bột vôi.
- Tập trung kích thích miễn dịch ruột và thể dịch thông qua việc sử dụng vaccine PED sống giảm độc hoặc vaccine bất hoạt, tùy điều kiện trang trại.
- Kiểm soát hội chứng MMA (viêm vú, viêm tử cung, mất sữa) ở nái để bảo đảm miễn dịch thụ động cho heo con.
- Ngoài ra, chuyên gia khuyến cáo duy trì miễn dịch đàn bằng việc theo dõi kháng thể IgG, IgA trong sữa đầu (colostrum) và tuyệt đối không sử dụng lại bao tải, vật dụng từ khu đẻ heo bị nhiễm bệnh.
Bên cạnh đó ông cũng nhấn mạnh: “Không có giải pháp nào duy nhất, mà cần kết hợp đồng bộ giữa vaccine, an toàn sinh học và quản lý trang trại.”
Kinh nghiệm từ Thái Lan: Hướng đi mới nhờ vaccine chuồng

TS. Đàm Văn Phải, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam phiên dịch cho các phần trình bày của PGS.TS. Suphot Wattanaphansak
Một điểm đáng chú ý nhấn trong báo cáo của PGS.TS. Suphot Wattanaphansak là việc ứng dụng vaccine chuồng (autogenous vaccine) tại Thái Lan. Đây là loại vaccine được sản xuất từ chính chủng vi khuẩn hoặc virus phân lập tại trại, đảm bảo phù hợp kháng nguyên và tăng hiệu quả miễn dịch. Quy trình sản xuất gồm 5 bước khép kín: (1) Thu thập mẫu bệnh phẩm, (2) Chẩn đoán phòng thí nghiệm, (3) Phân lập và nhân giống kháng nguyên, (4) Sản xuất và đưa vaccine trở lại trang trại sử dụng, (5) Đồng thời theo dõi, cập nhật chủng mới định kỳ. Toàn bộ quy trình được bác sĩ thú y giám sát, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả miễn dịch cao.
PGS.TS. Suphot Wattanaphansak đã chia sẻ kết quả nghiên cứu thực tế tại trang trại quy mô 3.800 nái ở miền Bắc Thái Lan giai đoạn 2015–2019. Dữ liệu cho thấy, sau khi áp dụng chương trình vaccine chuồng kết hợp quản lý an toàn sinh học, tỷ lệ chết của heo con và heo thịt giảm rõ rệt, trong khi tốc độ tăng trọng bình quân (ADG) được cải thiện ổn định, đạt khoảng 750–850 g/ngày.

Các đại biểu đặt câu hỏi cho diễn giả tại phiên thảo luận và được giải đáp kỹ lưỡng
Đặc biệt, thời gian nuôi để đạt trọng lượng xuất chuồng 105 kg được rút ngắn trung bình 14 ngày, giúp trang trại tiết kiệm hơn 7,2 triệu Baht chi phí thức ăn mỗi năm – tương đương hàng tỷ đồng Việt Nam. Chỉ sau 3–6 tháng sử dụng, các chỉ tiêu năng suất và sức khỏe đàn heo đều được cải thiện rõ rệt.
Tại Thái Lan, hệ thống quản lý vaccine chuồng được giám sát chặt chẽ bởi cơ quan thú y quốc gia, chỉ cho phép sử dụng nội bộ tại trại đăng ký. Thực tiễn cho thấy vaccine này giúp giảm đáng kể thiệt hại từ các bệnh như Glaesserella parasuis, Streptococcus suis hay Salmonella spp..
Kinh nghiệm này mở ra hướng đi cho Việt Nam trong tương lai, nhất là khi các bệnh vi khuẩn tái nổi ngày càng đa dạng và kháng thuốc tăng cao.

Các đại biểu tham dự hội thảo tại tỉnh Đồng Nai chụp ảnh lưu niệm
Các đại biểu tham dự hội thảo tại Hà Nội ngày 4/10 chụp ảnh lưu niệm
Hà Ngân – Hà My
Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam
(https://nhachannuoi.vn/cap-nhat-mot-so-benh-moi-noi-va-tai-noi-tren-heo-tai-viet-nam-thach-thuc-va-giai-phap/, ngày 23/10/2025)





